Cẩm nang công tác văn phòng
22 Việc hiểu rõ và nâng cao năng lực thực hành quyền biểu quyết của người lãnh đạo, quản lý và mọi công dân chắc chắn góp phần nâng cao chất lượng các quyết định cần đến lá phiếu của quyền biểu quyết. Trong một xã hội dân chủ, quyền biểu quyết được sử dụng rất rộng rãi. Quyền biểu quyết chính là phương thức thể hiện chính kiến của một cá nhân đối với những quyết định mang tính tập thể. Những quyết định cần phải được thông qua bằng phương thức biểu quyết được gọi là quyết định tập thể, nghĩa là loại quyết định này khác hẳn với quyết định cá nhân là chỉ do một người thông qua. Xen kẽ giữa hai loại quyết định đó, có những quyết định mang tính kết hợp đòi hỏi sự đồng thuận của cả tập thể và cá nhân. Việc biểu quyết cần được mọi người tiến hành tự nguyện, thể hiện được ý chí cá nhân đảm bảo quyền tự do lựa chọn chính kiến, khách quan, phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra. Quyền biểu quyết phải được chính thức hóa một cách rõ ràng, minh bạch trong các văn bản thể chế. Ví dụ, Điều 17 Nghị quyết của Quốc hội số 07/2002/ QH11 ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội quy định: 1. Trước khi biểu quyết, Chủ tọa phiên họp phải nêu rõ nội dung vấn đề Quốc hội cần biểu quyết. Đại biểuQuốc hội có quyền biểu quyết tán thành, không tán thành hoặc không biểu quyết. Đại biểu Quốc hội không
Made with FlippingBook
RkJQdWJsaXNoZXIy MTExMjQ5NA==